Giữ Mãi Niềm Hy Vọng

obama_tap_can_binh2

Làm Thế Nào để Quan Hệ Mỹ- Hoa Khỏi Đổ Vỡ –

James Steinberg và Michael O’Hanlon –

Lược Dịch: Huỳnh Khuê[1][1]

Tại hôi nghị thượng đỉnh California tháng Sáu vừa qua, Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama và Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cam kết xây dựng thành tín giữa hai quốc gia.  Từ đấy, các diễn đàn chính thức mới về việc thông tin liên lạc đã được phát động (như các đối thoại giữa quân sự với quân sự mà các bộ trưởng của hai nước hiện thời tuyên bố), bổ sung các diễn đàn hiện có như Đối Thoại Kinh Tế và Chiến Lược (vốn phác họa những nhà ngoại giao và viên chức kinh tế hàng đầu của các quốc gia).  Mặc dầu những cố gắng này, tin tưởng vào cả hai cơ quan hành pháp – và vào các quốc gia này nói một cách khái quát – vẫn còn hiếm hoi, và khả thể về một xung đột quốc tế ngay cả bất ngờ xảy ra giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc hình như càng ngày càng phát triển.  Do cái giá tiềm tàng và rộng lớn như một xung đột có thể xảy đến cho cả hai bên, phát họa làm thế nào giữ nó ở một mức độ nào đó là một trong những thử thách của những năm và những thập niên sắp đến.[2][2]

Các yếu tố phá hoại thành tín dễ dàng đễ diễn tả.  An ninh và quan cảnh kinh tế của Đông Á đang trải qua tiến trình thay đổi kiến trúc, hàng loạt, được điều động hàng đầu bởi sự trổi dậy kinh tế đáng chú ý của Trung Quốc trong những thập niên hiện tại. Phép màu kinh tế ấy, đến lượt, làm cho Trung Quốc tăng thêm khả năng quân sự và tạo vai trò chính trị trong và ngoài khu vực.  Các nhà lãnh đạo và các chiến lược gia Trung Quốc đã liên tục cố nhấn mạnh rằng sự trổi dậy của Trung Quốc sẽ là hòa bình và không đe dọa các láng giềng hay trật tự kinh tế và chính trị quốc tế.  Nhưng, nhiều thành viên của cộng đồng thế giới duy trì quan tâm và ngay cả bi quan, ghi nhận rằng lịch sử và lý thuyết liên hệ quốc tế tràn đầy những ví dụ của mâu thuẫn nổi lên từ những va chạm giữa một cường quốc đang lên và  một cường quốc ngự trị.

Những bi quan như thế đã bị khiêu khích, hơn nữa, bởi những hành động riêng tây hiện thời của Trung Quốc, từ những hoạt động hàng hải quyết đoán ở các Biển Đông và Biển Nam Trung Quốc cho đến những công bố đơn phương về “khu vực xác định phòng không” chung quanh Quần Đảo Điếu Ngư (ở Nhật gọi là Quần Đảo Senkaku), trong Biển Đông Trung Quốc.  Và các nhà hoạch định quân sự Hoa Kỳ càng ngày càng quan tâm về quỹ đạo hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc và về chính sách khu vực cấm vào “anti-access / area-denial” (A2/AD) của quốc gia này, mà họ xem như là một nỗ lực không xây dựng của Trung Quốc nhằm làm suy yếu khả năng bảo vệ lợi ích và hỗ trợ các hứa hẹn đồng minh của Hoa Kỳ ở tây Thái Bình Dương.

Cùng thời gian ấy, đội ngũ Obama đã tích cực phát huy việc tái định hướng chiến lược riêng của họ như “xoay trục” hay “tái cân bằng” đến Á Châu.  Hành pháp nhấn mạnh rằng động lực này là để tăng thêm ổn định khu vực vì lợi ích của tất cả, hơn là để ngăn chặn hay đe dọa Trung Quốc.  Nhưng một vài người Hoa, đặc biệt trong các cộng đồng quân sự và an ninh quốc tế, bị thuyết phục.  Họ, cũng đọc lịch sử của nước họ và lý thuyết bang giao quốc tế và cũng kết luận rằng Hoa Kỳ, giống như các cường quốc ngự trị trước đó, xác định duy trì vai trò lãnh đạo của nó, cản trở sự trổi dậy của Trung Quốc và làm cho quốc gia này tổn thương.  Như là một chứng cứ về ý định của người Mỹ độc hại, họ đưa ra những khả năng tiến triển của Hoa Kỳ như phòng thủ hỏa tiễn khu vực mở rộng; các bố trí đặt căn bản trên tăng cường và mới mẻ ở Úc, Guam, và Singapore; và các thực tập quân sự và các vụ trinh sát hiện tại có hướng dẫn gần lãnh thổ Trung Quốc, cũng như sự tồn tại của các liên minh an ninh thời Chiến Tranh Lạnh.  Và sự biện minh chính đáng duy nhất cho khái niệm quân sự mới xuất hiện của Hoa Kỳ về “trận chiến hải-không,” họ tuyên bố, là một ước muốn để ép buộc Trung Quốc với đe dọa một cuộc tấn công phủ đầu chận đầu.

Do bất ổn vây quanh tương lai an ninh của Á Châu, các hành động của mỗi bên sẽ được hiểu và hợp pháp hóa như những biện pháp thiết kế để phòng vệ chống lại một khả thể về thù địch tương lai hay về một cuộc tấn công của thành phần này đối với thành phần khác.  Nhưng suy nghĩ ngắn hạn hợp lý như vậy chỉ có thể phát sinh ra một vòng xoáy hình thức lớn hơn ngay cả cho sự thiếu tin tưởng nhiều hơn, tạo cho xung đột tương lai một tiên đoán tự hoàn thành – đây là tại sao điều này quan trọng để tìm cách vượt qua hay giảm thiểu những lưỡng lự cổ điển như thế.

Một cách để tránh những đụng độ không cần thiết là giảm bớt vai trò độc ác tạo ra bởi những quan niệm sai lầm.  Những điều này có thể phát sinh từ hai hướng đối nghịch: từ một bên hoặc nhận thấy một đe dọa mà ở đấy không bên nào có ý định hoặc sai lầm tin vào một tin tưởng về ý định của bên khác để bảo vệ phúc lợi của nó.  Điều này có nghĩa rằng thử thách thực dụng cho cả hai Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh là xua tan những sợ hãi sai lầm trong lúc chịu đựng những nản lòng bằng cách tạo ra những đe dọa có thể tin tưởng được ở đâu mà họ có chủ ý một cách nghiêm chỉnh.  Tin tức tốt đẹp là sự kiện lịch sử và nguyên lý cho biết bốn công cụ có thể hữu dụng trong quan tâm này: kiềm chế, có qua có lại, minh bạch, và khả năng phục hồi.

Kiềm chế là ý chí để từ bỏ những hành động có thể làm gia tăng an ninh riêng của một người nhưng tỏ ra đe dọa đến một ai đó.  Có qua có lại là một đáp ứng tử tế do một bên đối với những hành động của bên khác – trong trường hợp này, một dấu hiệu kiềm chế được hiểu như là được đáp ứng với cạnh tranh hơn là bóc lột.  Minh bạch giúp làm giảm bớt lo ngại rằng các dáng điệu tích cực có thể nhìn thấy của phía bên kia che dấu.  Và khả năng phục hồi cung cấp một lề an toàn “margin of safety” nhằm giữ cho các khủng hoảng khỏi leo thang và tạo dễ dàng hơn cho bất cứ phía nào nỗ lực khởi sự một chu kỳ kiềm chế, có qua có lại, và minh bạch.  May mắn thay cho mọi người, có một loạt biện pháp thực dụng cả Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh có thể sử dụng trong chính sách an ninh quốc gia, nói khác hơn, chính sách ấy có thể sử dụng các công cụ này để hỗ trợ tăng cường tin tưởng và giảm bớt nguy cơ xung đột.

SUY NGHĨ THÔNG THƯỜNG

Từ quan điểm của Hoa Thịnh Đốn, bất ổn lớn lao nhất về ý định tương lai của Trung Quốc khởi phát từ tăng trưởng đạt được và nhanh chóng do chi tiêu quân sự và đầu tư kèm theo trong vũ khí quy ước tinh tế vốn thử thách khả năng của Hoa Kỳ.  Điều chắc chắn rằng ngay cả các lượng giá dễ dãi nhất về chi tiêu quân sự hiện thời của Trung Quốc – chi tiêu ấy đạt mức 200 tỷ đồng hằng năm hay hai phần trăm Tổng Sản Lượng Nội Địa (GDP) – vẫn đặt chi tiêu ấy ít hơn một phần ba chi tiêu của Hoa Kỳ (hiện tại là 600 tỉ đồng một năm, hay 3.5 phần trăm GDP).  Với tỉ số tăng trưởng hiện tại, ngân sách quân sự hằng năm của Bắc Kinh cho đến năm 2030 có thể cũng không ngang với ngân sách của Hoa Thịnh Đốn.  Và ngay cả sau đó, Hoa Kỳ cũng có thể trông cậy vào các cổ phiếu tích lũy chồng chất về vũ khí hiện đại, về nhiều năm kinh nghiệm chiến đấu, và chi tiêu của đồng minh cũng như thân hữu của Hoa Kỳ (bây giờ khoảng 400 tỉ hằng năm).

Nhưng, nếu Trung Quốc muốn làm dịu lo ngại của nhiều quốc gia và muốn tỏ rằng các mục đích là tự vệ hợp pháp hơn là khả năng để đưa ảnh hưởng ra ngoài nước và đe dọa các quốc gia khác, có những bước xây dựng Trung Quốc có thể sử dụng.  Do rằng chi tiêu của Hoa Kỳ bao trùm các khả năng không chỉ ở Á Châu nhưng còn vòng quanh địa cầu, một trường hợp thuyết phục có thể được thực hiện mà Trung Quốc có thể hoàn thành tự vệ bằng chi tiêu khoảng một nửa của những gì mà Hoa Kỳ chi tiêu.  Bằng cách giảm tỉ số ngân sách quân sự hiện thời đang lớn dần trong những năm sắp đến, do đó, Trung Quốc có thể thông báo rằng mục tiêu của Trung Quốc là tự vệ chứ không phải hoàn chỉnh cân bằng.  Và Trung Quốc có thể thực hành hạn chế trong việc thu thập các hệ thống vũ khí (như hỏa tiễn đạn đạo tầm xa chống tàu) mà mục đích của nó, nhất là nếu nó được mua với số lớn, hình như không phù hợp với một tuyên bố rằng Trung Quốc hoan nghênh sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ ở tây Thái Bình Dương.  Nói một cách rộng rãi hơn, Trung Quốc có thể chứng tỏ minh bạch nhiều hơn về ngân sách và chi tiêu quân sự và cho biết rõ ràng hơn các mục đích của chính sách A2/AD.

Hoa Kỳ, về phần mình, có thể từng bước làm sáng tỏ rằng hiện đại hóa quân sự quy ước riêng của Hoa Kỳ không thiết kế ra để đe dọa lợi ích an ninh của người Hoa hợp pháp,  Ngân sách quân sự Hoa Kỳ đang giảm bớt là một trong biểu hiện của hạn chế như thế.  Nhưng Hoa Thịnh Đốn có thể làm nhiều hơn trong lĩnh vực này, như bằng cách làm sáng tỏ mục đích của quan niệm trận chiến hải-không “air-sea battle,” thay đổi tên của quan niệm ấy thành hành quân hải-không “air-sea operations,” gồm cả các dịch vụ quân sự bên cạnh lực lượng không quân và hải quân tập trung nhiều hơn trong chính sách Hoa Kỳ-Á Châu, và sửa đổi vài trong nhiều tình huống tấn công trí tuệ, “offensive-minded,” của chính sách hải-không “air-sea” vốn thể hiện đe dọa một cách trực tiếp các tài sản chỉ huy và kiểm soát và các tài sản chiến lược của Trung Quốc với một cuộc tấn công phủ đầu khả thể trong một cuộc xung đột.  Để tăng cường tin tưởng vào việc tu sữa chính sách như thế, Hoa Kỳ có thể hạn chế việc thủ đắc hỏa tiễn đạn đạo hướng dẫn chính xác, tầm xa và máy bay ném bom chiến lược, vốn, nếu được mua đủ số lượng có thể được xem như tạo ra mối đe dọa hiện hữu đối với Trung Quốc.  Bằng cách triển khai một kết hợp của tài sản thông thường mà không yêu cầu một sự phụ thuộc nặng nề vào việc leo thang đầu tiên (gồm những căn cứ mà nhiềù gay cấn để có hiệu quả và những tài sản với nhiều khả năng tồn tại trong khi đối diện với một cuộc tấn công), Hoa Thịnh Đốn có thể giúp giảm nhẹ cuộc chạy đua vũ trang và giúp giảm thiểu những hiểm nguy của một cuộc xung đột bùng nổ ra đầu tiên trong một cuộc khủng hoảng.

TỪ KHÔNG GIAN ĐẾN KHÔNG GIAN ẢO

Các biện pháp xây dựng thành tín mang tính biểu tượng hơn cả trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh là các thỏa thuận kiểm soát vũ khí chiến lược; các biện pháp này, dù một vài khó khăn, sau cùng giúp Hoa Thịnh Đốn và Mạc Tư Khoa tăng cường ổn định khủng hoảng và hạn chế các cuộc chạy đua võ trang hạt nhân phòng thủ và tấn công. Do nhiều lý do, các hiệp ước kiểm soát vũ khí chính thức ít thích ứng đến quan hệ Mỹ-Hoa hơn quan hệ Mỹ-Nga và có thể trong vài trường hợp chứng tỏ phản tác dụng.  Điều ấy có nghĩa, có một số tiến trình trong lãnh vực vũ khí có thể giúp làm dịu những nghi kỵ lẫn nhau và giảm bớt tình huống leo thang xung đột không chín chắn và bất ngờ.

Giữ không gian, ví dụ.  Do lệ thuộc sâu xa của Hoa Kỳ vào vệ tinh về cả dân sự và quân sự, các nhà kế hoạch người Hoa rõ ràng đang lưu ý làm thế nào vô hiệu hóa những tiện lợi không gian đem lại cho các hoạt động quân sự của Hoa Kỳ.  Tuy nhiên, chính vì lệ thuộc rõ ràng ấy, Hoa Kỳ có thể dưới áp lực để hành động mạnh mẽ và nhanh chóng nếu Hoa Kỳ tin rằng những tài sản ấy đang lâm nguy, chỉ dành một thời gian ít ỏi cho việc tìm kiếm sự kiện hay cho chính sách ngoại giao để xoa dịu cuộc khủng hoảng.  Vì lý do này, các biện pháp có thể làm tăng thêm an toàn tài sản không gian của Hoa Thịnh Đốn đặc biệt được chú ý trong một phương cách không thể đảo ngược, và các biện pháp ấy cũng trở nên lôi cuốn Bắc Kinh khi nơi đây tăng cường khả năng không gian của mình với thời gian.  An ninh tuyệt đối trong không gian có thể không được bảo đảm, vì mỗi một vệ tinh dân sự có thể được quản lý có khả năng hiện thời để phá hủy vệ tinh khác.  Nhưng bằng cách áp dụng những biện pháp trên thỏa thuận như “các vùng không được vào” chung quanh các vệ tinh, những quy luật cư xử có thể áp dụng để hợp pháp hóa việc sử dụng sức mạnh trong tự vệ mà không được dùng như thế trong khiêu khích.  Khả năng phục hồi cũng quan trọng ở đây khi Hoa Kỳ sẽ cần đến dư thừa trong không gian và các hệ thống không lưu để bù đắp một vài mức độ thiệt hại không thể tránh được.

Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh có thể thực hiện những bước thực tế để tăng thêm thành tín và giảm thiểu nguy cơ xung đột.  Giống nhau, Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể thỏa thuận một hiệp ước, cũng như dính líu đến các quốc gia khác một cách lý tưởng, ngăn cấm các va chạm hay các vụ nổ có thể tạo ra những mảnh vụn trên cao độ khoảng một ngàn dặm trong không gian, vùng quỹ đạo thấp của quả đất mà ở đó các vệ tinh thường xuyên hoạt động.  Khu vực này đã thực sự trở thành bề bộn bởi những mảnh vỡ với nhiều cách có thể đem lại nguy hiểm cho các hoạt động không gian tương lai, và vì các thử nghiệm của các hệ thống phòng thủ hỏa tiễn chính thức xảy ta tại cao độ thấp, những sắp đặt như thế có thể là đạt được tất cả với một ít đau khổ.  Hai bên có thể đồng ý đừng phát triển và đừng thử nghiệm các vũ khí chống vệ tinh hay vũ khí không-đối-địa đã quyết tâm hướng đến.  Các hạn chế thử nghiệm đơn phương có thể không loại bỏ tiềm năng đối với những khả năng như thế, dĩ nhiên, nhưng chúng có thể giảm bớt tín nhiệm mỗi bên có trong các hạn chế thử nghiệm ấy, cùng với sẵng sàng để đầu tư vào và để dựa trên những gì có thể đem lại cho các hệ thống mất ổn định đối với những hiệu quả không chắc chắn.

Hạn chế có thể đóng một vai trò quan trọng đặc biệt trong tăng cường tín nhiệm vào thực tế hạt nhân.  Vì vậy, hạn chế của Trung Quốc đến nay trong các triển khai hạt nhân, ví dụ, đã giúp đem lại tin tưởng tính chất phòng thủ về chính sách hạt nhân của mình.  Tương tợ, hạn chế của Hoa Kỳ trong việc phát triển một số lớn các hỏa tiễn đánh chặn hỏa tiễn đạn đạo, vốn có thể vô hiệu hóa khả năng trả đũa của Trung Quốc, do đó, tạo vững lòng cho ý định phòng thủ của Hoa Kỳ. Ngay cả không có sửa đổi chính thức, việc chấp hành tiếp tục hạn chế này cũng tạo được tin tưởng, vốn có thể được củng cố hơn nữa bởi phê chuẩn Hiệp Ước Cấm Thử Nghiệm Nguyên Tử Toàn Diện của cả hai phía và thực hiện chế độ kiểm tra đi kèm với nó.

Các biện pháp như thế có thể được nâng cao bởi các hiệp ước minh bạch, như một cơ chế “bầu trời cởi mở,” vốn có thể đem lại tin tưởng nhiều hơn đến hạn chế của mỗi phía.  Cơ chế này có thể xây dựng trên sự sắp xếp bởi đó Hoa Kỳ và Nga, và các quốc gia khối NATO và các quốc gia Hiệp Ước Warsaw, hướng dẫn các chuyến bay ngang bầu trời “overflights” của nhiều lãnh thổ của mỗi quốc gia khác (tại tỉ số khoảng100 chuyến bay mỗi năm) dưới một thỏa thuận có từ ngày đầu thập niên 1990.  Các quốc gia ý thức làm thế nào để bảo vệ những bí mật quý giá từ những chuyến bay như thế, vì thế sự sắp xếp không trình bày thật các quan tâm an ninh quốc gia.  Nhưng một thỏa thuận như thế có thể làm dịu đi tức giận của Bắc Kinh về các chuyến bay thám thính của Hoa Kỳ gần miền duyên hải của Trung Quốc.  Những chuyến bay như thế có thể ngay cả được giảm thiểu một cách khiêm nhường một bước mà – như cựu cố vấn An Ninh Quốc Gia Zbigniew Brzezinski đã đề nghị – đem lại học hỏi nghiêm chỉnh, đặc biệt nếu Trung Quốc bày tỏ một sự sẵn sàng để có qua có lại với minh bạch nhiều hơn.

Không gian ảo đặc biệt đang thử thách.  Như trong không gian, mức độ lệ thuộc cao của Hoa Kỳ trên cơ sở hạ tầng không gian mạng gây nên những tổn thương và tạo ra những áp lực để đáp ứng nhanh chóng đến bất kỳ một cuộc tấn công nào, có thể ngay cả trước khi nguồn gốc của nó hoàn toàn bị khám phá.  Và sự chú trọng hiện thời của Hoa Kỳ vào việc “bảo vệ tích cực” hạ tầng cơ sở này hình như để ngụ ý sẵn sàng hành động tấn công của Hoa Thịnh Đốn để vô hiệu hóa những đe dọa đang xuất hiện, với tất cả nguy hiểm đang xảy ra của việc phục thù đang leo thang.

Có rất nhiều lý do để tin rằng cả Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh hình như không tấn công các mục tiêu cơ sở hạ tầng không gian ảo trừ phi và cho đến khi tự nhận ra chính họ đang trên bờ vực của cuộc xung đột chính thức.  Nếu không có gì khác nữa, lệ thuộc kinh tế qua lại của hai quốc gia cung hiến sự bảo vệ chống lại một cuộc tấn công bất ngờ.  Nhưng các thành phần khác, gồm những tác nhân không quốc gia “nonstate actors” như khủng bố, tin tặc, có thể có một lợi ích nào đó trong việc giả mạo một cuộc tấn công như thế để kích hoạt một cuộc khủng hoảng hay ngay cả một cuộc chiến tranh.  Vì lý do ấy, Hoa Kỳ và Trung Quốc nên thỏa thuận cùng thực hiện một cuộc điều tra về cuộc tấn công không gian ảo “dấu tên,” áp dụng tính minh bạch và một hứa hẹn có thể tin tưởng được nhằm tránh tấn công mục tiêu hạ tầng cơ sở dân sự của mỗi một bên.  Và khả năng phục hồi đặc biệt quan trọng trong không gian ảo, vì mỗi bên càng giảm nhiều thiệt hại của mình đến một cuộc “tấn công một vài sự việc xảy đến thình lình và không cảnh giác” – “bolt from the blue attack”- càng có nhiều thời gian hiện diện để cố gắng phát họa ra điều gì đã xảy đến và giảm thiểu nguy hiểm về một chuỗi đường cong dài bất định của việc leo thang.

TRÔNG CHỪNG LÁNG GIỀNG

Viễn cảnh sáng giá nhất cho một cuộc đụng độ quân sự trực tiếp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc theo nhận định đến từ các căng thẳng càng ngày càng gia tăng ở các biển phía đông và phía nam Trung Quốc.  Hứa hẹn an ninh của Hoa Kỳ đối với Nhật và Phi, cả hai quốc gia có những tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, và sẵn sàng của Hoa Kỳ xác định các quyền hàng hải căn bản trong khu vực (điều tạo bước đầu cho việc gần chạm nhau giữa tàu USS Cowpens và các tàu người Hoa tháng Mười Hai vừa qua) có thể lôi cuốn Hoa Thịnh Đốn vào một cuộc xung đột ngay cả mặc dầu Hoa Kỳ tự mình không đòi hỏi lãnh thổ trong khu vực này.  Những căng thẳng này hình như không được giải quyết ngay bất cứ lúc nào.  Các lợi ích thực tế đe dọa quá nhỏ, và nhiều trong những cuộc đụng độ dính líu có thể được thu xếp với mong muốn cả đôi bên thật sự muốn làm như thế.  Nhưng tất cả các bên dính líu hình như sợ rằng bất cứ biểu hiện hạn chế hoặc điều đình nào sẽ được xem như một dấu hiệu của yếu kém, dẫn đến ngay cả nhiều hành vi quyết đoán trong tương lai.  Điều này làm cho tất cả quan trọng hơn để tìm cách ngăn chặn các cuộc khủng hoảng khỏi xảy ra hoặc kềm giữ chúng lại mỗi khi họ làm như thế.

Chủ chốt để ổn định liên hệ Mỹ – Hoa dài hạn là mỗi bên phải làm rõ ràng về ranh giới hiểm nguy “redlines.” Trung Quốc có thể đưa ra bảo đảm về các ý định của mình bằng cách đồng ý và thi hành quy tắc ứng xử đề nghị của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á về Biển Nam Trung Quốc (Biển Đông Việt Nam).  Hạn chế phát triển quân sự và đồng ý các tiến trình hoạt động – vốn có thể giảm nguy cơ tai nạn – có thể làm cho các khẳng định về ý định hòa bình của Bắc Kinh có thể tin tưởng được nhiều hơn, và những tiến trình như thế có thể được đồng ý trong liên quan với các quần đảo Điếu Ngư/Senkaku.  (Đây là một lãnh vực mà ở đó sự thay đổi chính sách rộng rãi hơn cần phải đến từ Trung Quốc; có những lãnh vực khác mà ở đấy một gánh nặng trách nhiệm không tỉ lệ nằm ở Hoa Thịnh Đốn, như trong việc giảm bớt tầm cở các lực lượng hạt nhân tấn công trong phối trí với Nga.)

Các viên chức Hoa Kỳ và Trung Quốc, ngoài ra, cần áp dụng các cơ chế cơ động “mechanisms” tốt hơn trong việc đối thoại trực tiếp và rõ ràng vào thời gian của một cuộc khủng hoảng.  Từ năm 1998, hai quốc gia đã có một đường giây nóng nối liền giữa các nhà lãnh đạo chính trị, nhưng họ chỉ có một ít trao đổi quân sự với quân sự, phần lớn do tính cẩn trọng của Bắc Kinh trong tham gia ấy.  Một thỏa thuận hàng hải quân sự, cũng ra đời năm 1998, khuyến khích tham khảo và minh bạch trên các hoạt động tương ứng của mỗi quốc gia nhưng không bao gồm các quy chế về đường lối hoạt động hay những chuyển động chiến thuật cụ thể.  Điều có thể có ý nghĩa là thiết lập một đường giây nóng chính thức có khuôn mẫu sau một khuôn mẫu Hoa Kỳ-Liên Xô; tại mức tối thiểu, mỗi trong cả hai quốc gia phải có một tập hợp địa chỉ liên lạc của mỗi bên khác cho các nhà lãnh đạo quân sự hàng đầu để tạo điều kiện thông tin liên lạc nhanh chóng trong các tình huống khủng hoảng.

Hai bên, và có lẽ các nhà lãnh đạo khác trong khu vực, cũng có thể thỏa thuận về một hiệp ước biến-cố-biển có thể so sánh với hiệp ước giữa Hoa Thịnh Đốn và Mạc Tư Khoa trong Chiến Tranh Lạnh, gồm không chỉ hải quân nhưng cũng gồm cả bảo vệ bờ biển và ngay cả các thương thuyền nữa.  Cả hai bên sẽ không tránh khỏi và hợp pháp tiếp tục giám sát của họ, nhưng họ thi hành như thế với rất ít nguy hiểm.  Hiệp ước có thể được thiết kế để bảo đảm rằng các tàu này không đến quá gần các tàu kia, rằng các hoạt động của hàng không mẫu hạm không bị ngăn cản với, và rằng các tàu ngầm không trồi lên mặt nước hay đối xử bằng, các phương cách nguy hiểm quá lớn.

Về các vấn đề khu vực, ngay cả mặc dầu một cuộc chiến tranh Hàn Quốc khác hình như không xảy đến, các biến cố trên đảo quốc này trong những năm hiện thời (như các chương trình hỏa tiễn và nguyên tử đang tiến triển và việc đánh chìm chiến hạm Cheonan của Nam Hàn và pháo kích đảo Yeonpyong trong năm 2010) phục vụ như những lưu ý rằng nguy hiểm của việc leo thang đến một mâu thuẫn lớn hơn cần phải kiên gan, bền chí.  Nếu một cuộc khủng hoảng bùng nỗ như là hậu quả của một khiêu khích mới hay sự sụp đổ của Bắc Hàn, thật không khó khăn để tưởng tượng rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc bị kéo vào, với những hậu quả thảm khốc to lớn.  Vì thế dùng những bước thực tế bây giờ để đặt ra những công việc căn bản cho một đáp ứng điều hợp đến một cuộc khủng hoảng tương lai trở thành có ý nghĩa.

Ít nhất, mỗi bên có thể bảo đảm với bên khác rằng các kế hoạch đáp ứng khủng hoảng của nó (gồm cả kềm chặt nguyên liệu hạt nhân hay lập lại trật tự chính trị) được thiết kế để tạo ổn định hơn là đe dọa.  Đối với Bắc Kinh, miễn cưỡng nói đến những chủ đề như thế vì lo ngại xúc phạm Bình Nhưỡng có thể bị phá hỏng bởi bắt đầu đối thoại như bàn luận hai chiều giữa các quan chức hưu trí và quan chức thuộc viện nghiên cứu.  Bắc Kinh cũng phải công nhận rằng trên một bán đảo thống nhất, Hán Thành có thể có quyết định về lực lượng Hoa Kỳ có thể ở lại hay không.  Hoa Thịnh Đốn, về phần của mình, nên trấn an Bắc Kinh rằng bất cứ tư thế vũ lực nào của Hoa Kỳ tương lai trên bán đảo (giả định rằng Hán Thành vẫn muốn hiện diện của Hoa Kỳ) có thể ít hơn một vũ lực hiện thời và không căn cứ bất cứ gì hơn Bắc Hàn hiện bây giờ.  Và cả hai Hán Thành và Bắc Kinh phải được chuẩn bị để mời Trung Quốc hỗ trợ trong bất cứ dự phòng tương lai nào, ít nhất trong những lãnh vực riêng của Bắc Hàn.

Ngay cả mặc dầu các căng thẳng xuyên qua các eo biển đã êm dịu lại trong những năm hiện tại, Đài Loan duy trì một đường lối tranh cãi trong quan hệ Hoa-Trung, một phần vì Trung Quốc không từ bỏ sử dụng vũ lực để đưa Đài Loan trở lại với lục địa và một phần vì Hoa Kỳ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Bắc.  Vài căng thẳng hình như có thể không tránh được do sự khác biệt căn bản trong phúc lợi của cả hai phía.  Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp này, trấn an có một vai trò.  Đối với Bắc Kinh, điều này tạo cho ý muốn tìm kiếm một đường lối hòa bình về việc thống nhất đã xác định có thể tin tưởng được, bởi đặt vài giới hạn trên hiện đại hóa quân sự và ngưng thực tập quân sự chú trọng trên thị oai Đài Loan xuyên qua những trận hỏa tiễn hay cấm vận.  Đối với Hoa Thịnh Đốn, nó có nghĩa làm cho chắc chắn rằng vũ khí được bán cho Đài Bắc trong thực tế là bảo vệ và chứng minh sẵn sàng bớt bán vũ khí ấy để đáp ứng những hạ giảm khó đảo ngược, có thể quan sát, và đầy ý nghĩa trong tư thế đe dọa của Trung Quốc đối với Đài Loan.

May mắn thay, cả hai phía đã đeo đuổi những thành phần chính của một chương trình như thế.  Tuy nhiên, tích lũy hỏa tiễn hiện thời của Bắc Kinh, và khả thể chống lại hành động này của Hoa Thịnh Đốn bởi giúp Đài Loan nâng cao phòng chống hỏa tiễn, tạo tiềm năng cho một vòng mới của sự leo thang – hay nó có thể dẫn đến một vòng mới của bảo đảm.  Trung Quốc có thể khởi sự một cách hữu ích tiến trình cuối bằng cách giảm bớt sức mạnh hỏa tiễn đã phát triển.

NHIỀU THIỆN CHÍ, ÍT ỒN ÀO

Điểm chủ chốt cho các quan hệ Hoa-Trung bền vững lâu dài là đối với mỗi bên phải rõ ràng về ranh giới nguy hiểm “redlines” và cái giá thật sự của nó, ít nhất trong thể tổng quát.  Như với bảo đảm, giải quyết giao tiếp chính xác đòi hỏi nhiều hơn chỉ là lời nói; nó liên quan chứng minh cả hai ý chí và khả năng để thực hiện tốt trên các mối đe dọa.

Điều kia có nghĩa rằng Hoa Thịnh Đốn phải làm cho Bắc Kinh hiểu rằng Hoa Thịnh Đốn sẽ bảo vệ không những chỉ lãnh thổ và nhân dân riêng của mình nhưng cũng còn của những liên minh chính thức và đôi lúc ngay cả các nước thân hữu không liên minh.  Đây là một phần những gì chính sách tái cân bằng của hành pháp Obama đã phải làm, nhưng để đạt tác dụng ấy, nó cần phải được theo dõi và thi hành một cách nghiêm chỉnh hơn là được cho phép bằng ngôn ngữ.  Dĩ nhiên, thể hiện quyết tâm không có nghĩa là đáp ứng mọi hành động khiêu khích với một phản ứng quân sự trực tiếp. Đôi khi đáp ứng không quân sự, như cấm vận và sắp đặt căn bản mới, có thể tạo ra ý nghĩa hơn cả, như có thể dùng đàm phán để cung hiến “đường ngoài” “off ramps” thích đáng và nhiều đường lối khác cho việc xuống thang cuộc khủng hoảng.  Cách tốt nhất để giải quyết tín hiệu thận trọng trong một trường hợp cụ thể sẽ phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau, bao gồm mức độ điều hợp Hoa Thịnh Đốn có thể điều hành để hoàn thành với các đồng minh và các đối tác của nó.  Nhưng điều thật quan trọng là chỉ dấu cho Bắc Kinh rất sớm và rõ ràng rằng có một vài ranh giới mà Bắc Kinh không được phép ngang qua với trạng thái miễn tội.

Mặt trái của điều này là Hoa Kỳ cần hiểu và tôn trọng quyết định của Trung Quốc để bảo vệ, với sức mạnh nếu cần thiết, các lợi ích quốc gia quan trọng riêng của họ.   Đến mức mà những lợi ích kia được xác định một cách thích hợp, đây có thể là một quả quyết có thể chấp nhận được về quyền tự vệ  hợp pháp của Trung Quốc ở Điều 51 của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, và do lịch sử dễ bị tổn thương quá khứ đến xâm lược và tấn công, có thể hiểu cho Trung Quốc khi cần nhiều bước để làm cho quyết tâm riêng của nó đáng tin cậy.  Khó khăn ở đây là trong những năm hiện tại, Bắc Kinh đã khẳng định một danh sách ngày càng mở rộng về những lợi ích “cốt lõi” của nó và thường giải quyết chúng bằng một cách dễ dàng gây tức giận và luôn luôn sẵn sàng gây tranh cải với mọi người, ngay cả biến những tranh cải thường xuyên và nhỏ nhặt thành những đương đầu nguy hiểm kịch liệt và thành những thử thách nguy hiểm không cần thiết trong tương quan giải quyết.  Bắc Kinh cần thừa nhận rằng thời gian qua, lối hành xử như thế làm giảm đi tính hợp pháp và hiệu lực về những tuyên bố quan trọng hơn, gởi đi những tín hiệu xung đột, và làm mai một những phúc lợi dài hạn riêng của mình.

Quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc có thể đang tiếp cận một thời điểm thay đổi quan trọng.  Mối đồng thuận lưỡng đảng Hoa Kỳ lâu dài về tìm kiếm các mối quan hệ xây dựng với Trung Quốc đã sờn sứt, và người Hoa càng ngày cũng càng bi quan về tương lai các tiếp xúc song phương.  Tuy nhiên, định mệnh Mỹ về sự trổi dậy của Trung Quốc có thể dẫn đến sự chấp nhận rút lui của một thực tế mới hay một kháng cự cơ bắp được thiết kế để bảo vệ đặc quyền cũ – cả hai không hứa hẹn và cuối cùng là các chiến lược tự đánh bại.  Xây dựng mối liên hệ xung quanh các nguyên tắc về bảo đảm và giải quyết chiến lược cung cấp triển vọng cho một tương lai hứa hẹn hơn mà không gây nguy hiểm cho lợi ích hợp pháp của cả hai bên.  Trong thực tế, hơn là chỉ đơn giản hy vọng hay lên kế hoạch cho sự thành tín, nó thay thế một đường lối bàn thảo “tin tưởng nhưng xác minh” “trust but verify.” Điều này có âm vang hơn nhiều so với bảo hiểm rủi ro cổ điển, vì nó tìm cách làm giảm khả năng khiêu khích và leo thang ngoài ý muốn.  Và với may mắn, nó có thể đủ để ngăn cản những xung đột toàn diện khỏi xảy ra, một kết quả mà những người thận trọng của cả đôi bên nên tìm kiếm.[3][3]

San Jose 07/11/2014

       Huỳnh Khuê

Liên lạc:

Huỳnh Khuê (408) 761- 9214,

Khuehuynh2000@yahoo.com

 _______________________________________________

[3][1] “Giữ Mãi Niềm Hy Vọng” được lược dịch từ tựa đề “Keep Hope Alive, How to Prevent U.S.-Chinese Relations From Blowing Up” của James Steinberg và Michael O’Hanlon đăng trên Foreign Affairs số July/August 2014, Volume 93, Number 4, trang 107-117. James Steinberg là Khoa Trưởng Đại Học Quốc Tịch và Công Vụ Maxwell và Giáo Sư Khoa Học Xã Hội, Bang Giao Quốc Tế, và Luật tại Đại Học Syracuse. Michael O’Hanlon là một Thành Viên Thâm Niên tại Trung Tâm và An Ninh Thế Kỷ 21 và Giám Đốc Nghiên Cứu Chương Trình Chính Sách Ngoại Giao tại Viện Nghiên Cứu Brookings. Cả hai là các tác giả của “Giải Quyết và Bảo Đảm Chiến Lược: Quan Hệ Hoa Mỹ Thế Kỷ 21” (Princeton University Press, 2014), từ đó bài này được phỏng theo.

[3][2] Chủ đích của người dịch là căn cứ trên luận đề của các tác giả để không những chỉ thông báo cho mọi người tị nạn hải ngoại, nhất là các người Việt Quốc, mục đích, qua lý luận tìm giải pháp cho các vấn đề xung đột giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, mà, do đó, còn yêu cầu được góp ý phần nào trong đường lối “bảo vệ” của Hoa Kỳ, nhất là việc quan tâm đến, đặc biệt, mọt giải pháp hành động, nếu có, để duy trì Việt Nam khỏi tình trạng đang và sẽ rơi không cưỡng được vào kế hoạch xâm lược của Trung Quốc, sau một loạt quyết định đáng phàn nàn của Hoa Kỳ: lãng quên chủ trương giúp các lân bang chống Cọng Sản của Tống Thống Truman, và thỏa hiệp với khối Cọng Sản để rút khỏi Việt Nam 1973…

 

[3][3] Biện luận: Chủ đích người soạn bài này, như ghi chú 2, là mong được góp ý và nay mong có thêm phần biện luận, điều cần quan tâm là sử dụng ngôn ngữ văn hóa. Phần tôi, tôi trân trọng các quan sát và các khẳng định của các tác giả, nhưng một vài ghi nhận lịch sử thúc đẩy tôi nêu vài bất đồng. Hãy tưởng tượng nước Mỹ ngày nay nếu trận tấn công Trân Châu Cảng của Nhật mà không có kịp thời bom nguyên tử của Albert Einstein, cuộc cuốn cờ trên nóc tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Saigon năm 1973 đã không xảy ra, nếu Mỹ quyết tâm chiến thắng và ngay từ đầu, OSS không tiếp vũ khí, tạo điều kiện cho Hồ Chí Minh cầm quyền năm 1945, sau đó, còn tiếp tay thăng tiến nền kinh tế Trung Quốc để đến phải chịu đựng đáng nể cảnh hết máy bay Trung Quốc đến máy bay Nga bay lượn khiêu khích vờn mặt tàu Hoa Kỳ ở vùng biển Trung Quốc đòi hỏi bất hợp pháp. Hoa Kỷ đã quyết định xoay trục và đã xoay trục về Thái Bình Dương, nhưng Trung Quốc vẫn ngang nhiên bành trướng lãnh thổ về phía Nam và tiếp tục uy hiếp vùng biển đang tranh chấp với các quốc gia phía Nam Trung Quốc. Tiếp xúc song phương cần và phù hợp nguyên tắc ngoại giao, nhưng nếu đây chính xác là “tâm-trí” của người Mỹ, Hoa Kỳ có thể đã để mất thêm cơ hội “phất cờ đúng lúc” và, vấn đề cũng là cơ hội cho người Việt tị nạn “vận dụng” để Việt Nam thoát khỏi nạn xâm lược Tàu.

 

 

 

 

Advertisements

Góp ý

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s